Trường Sa Hoàng Sa » Biển đảo » Toàn cảnh Chiến dịch bảo vệ các đảo ở Trường Sa năm 1988

(Biển đảo) - Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, kể từ đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước hai miền nam bắc thống nhất. Chúng ta không chỉ phục hưng nền độc lập mà còn làm chủ không gian rộng lớn từ Ải Nam Quan đến đất mũi Cà Mau, cùng với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.Ngay trong những ngày cả dân tộc dồn sức cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác, cả thế giới hướng về Việt Nam chứng kiến cuộc rút lui chiến lược của người Mỹ và cuộc tháo chạy của chính quyền Sài Gòn. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã có chỉ đạo các chiến sĩ Hải quân bí mật, bất ngờ, dũng mãnh tiến ra giải phóng Trường Sa. Điều này cho thấy ngay từ thời chiến chúng ta đã ý thức sâu sắc về vị thế và tầm quan trọng của biển đảo.

Toàn cảnh Chiến dịch Trường Sa 1988 là những ngày không thể quên

Chủ quyền Việt Nam được khẳng định ở giữa Biển Đông dậy sóng. Chúng ta đã làm chủ không gian biển rộng lớn trên 1 triệu km2, gấp ba diện tích đất liền. Giai đoạn 1987 – 1988 là mốc thời gian mà Việt Nam ra sức giữ vững chủ quyền biển đảo, trước sự bành trướng của Trung Quốc.

Ngày 30 tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 06/NQ-TW về đấu tranh bảo vệ chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước mắt là quần đảo Trường Sa. Trước mắt đóng giữ các bãi Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ. Chuẩn bị mọi điều kiện chờ, nếu đối phương xâm hại hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì tỉnh táo kiên quyết đánh trả.

Trước đó, thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 12 tháng 1 năm 1987, Đảng ủy Quân chủng ra Nghị quyết số 54-5A về nhiệm vụ năm 1987. Ngày 26 tháng 2, Bộ Tư lệnh ra Chỉ lệnh số 401/B0.1 về sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm chiến đấu năm 1987.

Trung Quốc sử dụng mọi biện pháp chính trị, ngoại giao, quân sự để thực hiện âm mưu thôn tính Trường Sa, độc chiếm Biển Đông. Họ sử dụng nhiều tàu cá, tàu nghiên cứu thăm dò phối hợp với tàu chiến chuẩn bị xâm chiếm một số bãi đá ngầm, cho tàu cá vào lòng hồ, sát các đảo của ta để đánh cá, khảo sát, trinh sát, khiêu khích.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh chủ trương trong 3 năm (1988-1990) tổ chức lực lượng đóng giữ 11 bãi đá, không để nước ngoài đóng xen

kẽ. Đêm 24 tháng 10 năm 1987, Phó Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Quân chỉ thị cho Lữ đoàn 125 chuẩn bị tàu, pông-tông sẵn sàng đưa lực lượng ra Trường Sa, chuyển các tàu của Lữ đoàn 172 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, cơ động ra phía trước và Trung đoàn 83 công binh chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng làm nhiệm vụ xây dựng đảo.

Kế hoạch đóng giữ bảo vệ ở quần đảo Trường Sa và đề nghị cho máy bay trinh sát trên khu vực biển Trường Sa được đồng chí Tư lệnh trực tiếp báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày 25 tháng 10.

Ngay đêm 25 tháng 10 năm 1987, đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá Tiên Nữ, Đá Lớn, Đá Tây, Chữ Thập. Ngày 28 tháng 11, Trung úy Nguyễn Hữu Tại đưa một đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 và trung đội công binh do đồng chí Nguyễn Trung Cang chỉ huy ra đóng giữ bãi cạn Đá Tây. Do sóng to, gió lớn sau một thời gian, tàu HQ613 chở bộ đội về Cam Ranh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1987, tàu HQ617 đến Đá Lớn, gặp sóng to quay về neo ở đảo Nam Yết. Ngày 7 tháng 11, tàu quay lại Đá Lớn, sóng gió mạnh làm đứt 2 neo nên cũng phải trở về Cam Ranh. Mặc dù rất cố gắng, nhưng do thời tiết xấu, chất lượng phương tiện kỹ thuật không bảo đảm nên việc đóng giữ 2 bãi đá Chữ Thập, Tiên Nữ chưa thực hiện được.

Ngày 6 tháng 11 năm 1987, Bộ Quốc phòng thông qua kế hoạch đóng giữ các bãi cạn do Thường vụ, Bộ Tư lệnh Hải quân kiến nghị và đã ra Mệnh lệnh số 1679/ML-QP về việc bảo vệ Trường Sa, gửi các quân chủng Hải quân, Không quân.

Sáng 15 tháng 11, Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh hội ý, chỉ đạo Vùng 4 khẩn trương sử dụng các tàu HQ671, HQ674, HQ617, HQ661, HQ727 ra chốt giữ ngay bãi đá Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ; chuẩn bị gấp tàu LCU đưa lên đóng giữ các bãi đá trên.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh điều Hải đội 131 tàu tên lửa thuộc Lữ đoàn 172, Vùng 1 vào Vùng 3 để sẵn sàng chi viện, bảo vệ đảo. Điều Tiểu đoàn 886 cùng một bộ phận xe máy Tiểu đoàn 885 thuộc Trung đoàn 83 công binh vào Cam Ranh xây dựng công trình đảo. Do ảnh hưởng của cơn bão số 6 kế đóng giữ Vùng 4 vẫn chưa được thực hiện.

Ngày 28 tháng 12 năm 1987, tàu HQ604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở Đá Tây. Ngày 15 tháng 1 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ hoàn thành nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo Đá Tây. Cùng thời gian này, Quân chủng tăng cường lực lượng xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam.

Thực hiện kế hoạch hiệp đồng trong hoạt động bảo vệ biển, đảo ở khu vực phía Nam của Bộ Tổng Tham mưu, Sở chỉ huy Quân chủng đã hiệp đồng với Quân chủng Không quân tổ chức nhiều chuyến bay biển quan sát, nắm tình hình. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép, tàu lạ xuất hiện đã bị ta ngăn chặn, xua đuổi.

Ngày 22 tháng 1 năm 1988, Trung Quốc đưa tàu hộ vệ tên lửa 156, tuần tiễu 9332, tàu dầu 941, tàu đổ bộ 932 và một số tàu khác thuộc hạm đội Nam Hải đến chiếm đóng đá Chữ Thập. Tiếp đó, Trung Quốc đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm hoạt động xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại.

Họ còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam. Cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở Đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu. Cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ họ sẽ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.

Trước tình hình trên, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Quân chủng tranh thủ đóng giữ thêm các bãi cạn chưa có người thuộc quần đảo chủ quyền của ta. Tổ chức đóng giữ không dùng nhiều người và có thể dùng mọi loại tàu, kể cả tàu 159AE. Công việc của 3 năm (1988-1990) sẽ làm cả trong năm 1988.

Ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng họp nhận định: “Trung Quốc đã cho quân hiếm giữ Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các bãi đá Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, Núi Le, buớc đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của Trung Quốc ra các đảo, đá lân cận. Song họ có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông Kinh tuyến 115 độ”.

Căn cứ tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Thường vụ Đảng uỷ Quân chủng xác định: “Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để họ chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa”.

Sự kiện ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu của Trung Quốc đã bắn cháy và chìm 3 tàu, 64 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương. Với hành động dũng cảm, kiên quyết đấu tranh để bảo vệ lá cờ, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc của Thiếu úy Trần Văn Phương và các đồng đội liệt sĩ của anh mãi sống cùng lịch sử dân tộc với tư cách là những tấm bia chủ quyền bất tử.

Chiến công oanh liệt, tàu HQ505 vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Liệt sĩ Trần Văn Phương, Liệt sĩ Vũ Phi Trừ, Liệt sĩ Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Nhiều tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương các loại.

Các anh là niềm kiêu hãnh, tự hào của mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam. Hành động anh hùng của Phương và các đồng đội đã thực sự góp phần khơi dậy truyền thống yêu nước của mỗi người dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo trong giai đoạn mới. Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế cả về số lượng và chất lượng nhưng cán bộ, chiến sĩ hải quân đã dũng cảm, kiên quyết trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Bộ Chính trị, Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao phó.

(Theo butdanh.net)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]sahoangsa.info
Xem thêm: