Trường Sa Hoàng Sa » Xã hội » Phật giáo trong hành trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ

(Xã hội) - Phật giáo với tư cách là một triết thuyết về giải phóng con người, đề cao đức từ bi, hỉ xả, vị tha và cứu khổ cứu nạn… Khi truyền bá đến Việt Nam đã sớm được chấp nhận trở thành một loại hình tôn giáo truyền thống của dân tộc và in đập trong mỗi con người Việt Nam. Trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, người đã bị ảnh hưởng nhiều bởi những tư tưởng của Phật giáo. 

Trong kinh điển Phật giáo Đại thừa nói rằng: “Đức Phật khi sơ sinh đã bước trên bảy bông sen”, điều này quả là một sự trùng hợp lí thú, khi nơi sinh dưỡng ra một doanh nhân văn hóa thế giới cũng là quê hương Làng Sen. Và Đức Phật khánh đản vào rằm tháng 4 âm lịch hằng năm, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sinh cùng thời điểm đó. Nhất là năm nay, khi Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc Vesak 2019 được tổ chức ở Việt Nam và ngày Phật đản năm nay cùng trùng với ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam năm 1957

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam năm 1957

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và bị ảnh hưởng sâu đậm bởi những tư tưởng cao đẹp của Phật giáo ngay trong gia đình mình. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì chính thân sinh Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc trong thời gian dạy học ở Đồng Tháp đã có chủ trương phục hưng phong trào Phật giáo ở địa phương.

Trên con đường đi cứu nước, tại thời gian hoạt động bí mật ở Thái Lan, đã có những lúc Hồ Chí Minh đã từng làm một nhà tu hành, sống một cuộc sống giản dị, kham khổ và nghiên cứu nhữn giáo lý đạo Phật.

Nghị sĩ Quốc hội Thái Lan Siphanômvishitvarason khi nói về thời gian Người ở Thái Lan đã nói: “Bác Hồ là vĩ nhân văn hóa. Năm 1927, khi sang Thái Lan, Bác đã xây dựng chùa thờ Phật to nhất, đó là chùa Phôthixâmphon ở tỉnh Uđon – đông bắc Thái Lan. Bác là người đứng ra chủ trì xây dựng, vận động Việt kiều góp sức, góp của để xây dựng chùa thờ Phật cho hoàn thiện. Bác đến đâu cũng giúp ích cho nơi đó”.

Kể cả thời điểm năm 1941, khi về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, sống giữa núi rừng Pắc Bó (Cao Bằng), Người cũng có treo ảnh Phật trên vách đá để thể hiện tư tưởng và giáo lý của nhà Phật kết hợp với lòng yêu nước.

Mối quan hệ mật thiết giữa Người với đạo Phật đã được khẳng định một cách rõ nét và công khai, khi năm 1945 giành chính quyền và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong chuyến thăm tại chùa Quán Sứ vào thời gian này, Người đã nói rằng: “… Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, tăng ni và phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc”.

“Nhà nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng. Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với hình, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, tăng ni và Phật tử, hãy tích cực thực hiện tinh thần từ bi, hỉ xả, vô ngã, vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước …”

Để tạo điều kiện cho tăng ni, Phật tử tham gia vào phong trào yêu nước thiết thực hơn, ngày 15/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Việt Nam Phật giáo Hội, trụ sở tại 73, Quán Sứ.

Năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã và đang trong giai đoạn khó khăn nhất, thì Người cũng đã viết bức thư “Gửi Hội Phật tử Việt Nam”, để kêu gọi Phật giáo ủng hộ công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước, giữ nền hòa bình. Trong thư Người đã nói:

“Nước có độc lập, thì đạo Phật mới dễ dàng mở mang… Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn. Nguời phải hy sinh đấu tranh, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết hy sinh của cải, xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc.

Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. Trong cuộc kháng chiến cứu nước, đồng bào Phật giáo đã làm được nhiều. Tôi cảm ơn đồng bào và mong đồng bào cố gắng thêm, cố gắng mãi, cho đến ngày trường kỳ kháng chiến thắng lợi, thống nhất, độc lập thành công”.

Trong suốt những năm tháng lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều chùa, cơ sở Phật giáo ở miền Bắc. Nhân dịp lễ Đức Phật Thích Ca thành đạo, ngày 8/1/1957, Người còn gửi lời khen ngợi các tăng ni và tín đồ đã thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, hăng hái làm tròn nghĩa vụ của người công dân và xứng đáng là Phật tử.

Nói về nhân cách và con người Chủ tịch Hồ Chí Minh với cái tâm trong sáng, luôn luôn vì lợi ích của dân tộc, Cố Hòa Thượng Thích Thiện Châu đã nói: “Bác Hồ là Bồ tát, là vị La hán, bởi vì Người đã dành tất cả cho mọi người, không giữ gì riêng cho mình cả. Cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ như đóa sen giữa rừng hoa dân tộc Việt Nam, hội tụ đức tài của đất nước“. (Báo Nhân Dân đăng ngày 22/1/1997).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng vua Lào lễ Phật tại chùa Quán Sứ năm 1963

Con đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tìm đường cứu nước, cứu dân, giành độc lập cho dân tộc, cũng là con đường Người đi theo chân lý của Đức Phật, Người giống như một vị Đại Bồ Tát tái sinh, đã nhập thế, từ bỏ những vinh hoa phú quý, từ bỏ những cuộc sống bình yên, để dấn thân vào con đường chông gai, gian khổ, để tìm ra nền độc lập cho dân tộc. Và điều này cũng giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, đã từng từ bỏ cung vàng, điện ngọc để tu hành và tìm ra chân lý cứu độ chúng sinh.

Giữa tư tưởng Phật giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng giống như tư tưởng của vua Trần Nhân Tông và xa hơn là của Phật Thích Ca Mâu Ni, khi cả 3 Người đều có những nét tương đồng trong tư tưởng đó là vì con người, vì cuộc sống của muôn người; cống hiến cho đời để mọi người được hướng tới cái đẹp, cái Chân – Thiện – Mỹ; sống một cuộc sống thanh bạch, giản dị…

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người như thế, Người đã suốt đời cống hiến cho nhân dân Việt Nam. Điều này đã được thể hiện qua câu nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào đầu năm 1946, sau cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành Chủ tịch chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong khi đó, thái tử Tất Đạt Đa khi rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo cũng đã nói: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”.

Một người vì “cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”, còn một người thì vì “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Mà lấy đó làm tôn chỉ phấn đấu để cống hiến đạo và đời, có lẽ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ ở mức độ dân tộc, chưa rộng lớn như Phật Thích Ca Mâu Ni.

Nhưng đối với một dân tộc, thì Người được coi là Phật sống, là người đưa dân tộc Việt “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, thoát khỏi chế độ phong kiến đã quá thối nát, chế độ thực dân bóc lột, không có 1 chút “hơi thở” của sự tự do, độc lập.

Với những tư liệu quý giá trên, đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo trong cả nhận thức lẫn hành động. Đó chính là lý do mà vì sao chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

(Theo Butdanh.net)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về [email protected]
Xem thêm: