Một trong những hạn chế khiến cho chương trình đánh bắt xa bờ của Chính phủ được khởi động từ năm 1997 đến nay chưa thực phát huy hiệu quả cao, theo các chuyên gia, là do những hạn chế về nguồn nhân lực bám biển. Hay nói cách khác, do chương trình chưa được vận hành một cách đồng bộ, vấn đề nguồn nhân lực biển chưa thực sự được coi trọng.
Mặc dù nghề cá nước ta đã và đang được phục hồi với quy mô khoảng 25.000 chiếc tàu có công suất từ 90CV trở lên, đủ điều kiện đánh bắt xa bờ, đạt 20% trong tổng số 128.000 chiếc trên toàn quốc với số lượng hơn 600.000 người bám biển, nhưng đó vẫn chỉ là một lực lượng của “nghề cá nhân dân”, chỉ biết lấy kinh nghiệm truyền thống là chính, rất lúng túng khi tiếp cận với công nghệ, thiết bị đánh bắt cá hiện đại.

Xốc lại đội hình để vươn khơi
Để khắc phục thực trạng này, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản Vũ Văn Tám; cũng như trong chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 1690/QĐ-TTg, ngày 16-9-2010), có ba nhiệm vụ cấp bách phải làm đồng thời hiện nay. Thứ nhất, phải bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho số lao động trực tiếp, với mục tiêu đến năm 2020 phải đào tạo được 1 triệu ngư dân lành nghề. Thứ hai, phải củng cố, phát triển đội ngũ nghiên cứu, ứng dụng KHKT, những chuyên gia đầu ngành phục vụ cho nghề cá và kinh tế biển. Thứ ba, phải bồi dưỡng, tuyển dụng bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đảm bảo chất lượng trong lĩnh vực kinh tế biển. Để thực hiện được những nhiệm vụ này, theo Thứ trưởng Vũ Văn Tám, đòi hỏi Chính phủ cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa ngành thủy sản và các bộ, ngành khác như Bộ Lao động- Thương binh&Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo…

Tàu cá
Một trong những điểm đáng báo động trong quá trình xây dựng nhân lực biển chính là vấn đề đào tạo nguồn nhân lực hiện nay. Có một thực tế là số học sinh, sinh viên mặn mà với các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực biển và thuỷ sản ở các trường đại học đang giảm một cách đáng kể. Đơn cử, Trường Đại học Nha Trang, năm học 2011 – 2012, khoa Khai thác thủy sản của trường được giao chỉ tiêu tuyển sinh 180 sinh viên gồm các ngành: Khai thác thuỷ sản, an toàn hàng hải, điều khiển tàu biển. Thế nhưng, số thí sinh đỗ nguyện vọng 1, tức trên điểm sàn, vào hệ đại học chỉ vỏn vẹn 4 người. Nếu tính cả hệ cao đẳng, lấy từ 10 điểm trở lên, toàn khoa cũng chỉ tuyển được chưa tới 30 em. Đại học Nha Trang có bề dày giảng dạy trên 50 năm các lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển như: Kỹ thuật chế tạo ngư cụ, khai thác thuỷ sản, kỹ thuật hàng hải và pháp luật hàng hải, quản lý nghề cá, hải dương học nghề cá… Vậy mà nay khoa Khai thác thuỷ sản bị thu hẹp, chỉ còn đào tạo hai ngành: Khai thác thuỷ sản và Khoa học hàng hải. Thống kê số thí sinh dự thi đại học những năm qua cho thấy, nếu như quản trị kinh doanh, kế toán, tài chính – ngân hàng có thí sinh lựa chọn nhiều nhất trong tổng số gần 240 ngành học với tỷ lệ lần lượt là 9,81%, 8,17%, 7,62% thì tỷ lệ thí sinh chọn các ngành kinh tế biển chưa đến 1%, với điểm trung bình thí sinh dự thi không cao.
Xác định đến năm 2020, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, kinh tế biển đóng góp 53 – 55% tổng GDP của cả nước. Trong đó có phần đóng góp quan trọng của ngành đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu. Muốn vậy không có cách nào khác phải xốc lại đội hình nhân lực để vươn khơi.
Trần Ngọc Kha (daidoanket.vn)



