Trường Sa Hoàng Sa » Lịch sử » Cuộc chiến Mười bảy tháng hai

(Lịch sử) - Tháng 8 năm 1978, nửa năm trước khi diễn ra cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) đã được đón Tổng Bí thư Lê Duẩn xuống thăm và làm việc. Bài nói chuyện của Tổng Bí thư giàu cảm xúc, với nhiều nội dung đã làm sáng tỏ một điều: cuộc “gặp gỡ” của súng đạn trên biên giới phía bắc sẽ là điều không thể tránh khỏi.

Trên thực tế, những hoạt động xâm nhập, bắt cóc, nổ súng… từ phía “bên kia” đã ngày càng dày thêm. Và cũng trên thực tế, “bên này” đã có sự chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Nhưng cuối cùng, Mười bảy tháng hai vẫn nổ ra như một bất ngờ. Tại sao ?

Không ai đã có thể ngờ rằng phía Trung Quốc lại mở cuộc tiến công quy mô, tàn khốc trên một chính diện hàng trăm ki lô mét toàn tuyến biên giới như vậy. Không ai đã có thể ngờ rằng Trung Quốc lại muốn ghi tên mình vào danh sách “các đế quốc to” từng xâm chiếm Việt Nam, kể từ chiến tranh thế giới Hai, với lực lượng hùng hậu 60 vạn quân. Trước đó, người ta chỉ hình dung và đặt phương án tác chiến cho các cuộc xung đột cấp chiến thuật trong một không gian hạn chế. Lý thuyết chưa được kiểm chứng cho đến lúc ấy là: Không thể có chiến tranh giữa những người anh em cùng giai cấp, cùng lý tưởng! Huống hồ đây lại là giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai quốc gia từng là phên dậu của nhau, từng sát cánh trong cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt để giải phóng miền Nam, thống nhất nước Việt. Tất cả đã đổ vỡ một sớm một chiều. Một tình bạn thủy chung, tin cậy đã bị hắt đi không dễ gì khôi phục, dù có đắp thêm vào đấy bao nhiêu “câu chữ”.

Nguyên nhân thật của việc gây ra cuộc chiến Mười bảy tháng hai chưa từng được công khai. Hãy để cho lịch sử phán xét, dù phải thêm mười, mười lăm hay năm mươi năm nữa. Điều này đâu có quan trọng, thực tế ai cũng rõ cả rồi. Vì sự kính trọng Trung Quốc, và vì quan hệ lâu dài giữa hai nước, người viết bài này đã từng không chỉ một lần nêu quan điểm về việc nên chăng hai bên có thể ngồi lại để thảo luận và có được một đồng thuận chính trị, coi sự kiện này như một tai biến lịch sử với một sự giải thích chấp nhận được cho cả hai phía như để khép dần quá khứ.

Nhưng hình như người ta không muốn thế. Năm 2009, 30 năm sau Mười bảy tháng hai, đầy ắp trên các trang mạng – và cả báo viết – của Trung Quốc là những bài phấn khích cực đoan về cuộc “Phản kích tự vệ”. Người ta đánh thức cuộc chiến ấy với đầu rơi máu chảy được mô tả, kể cả hả hê chuyện tống bom, tống bộc phá giật sập một chiếc hang giết chết hàng trăm người dân vô tội vào đấy lánh nạn. Rồi sau đó, trên các phương tiện truyền thông, lúc ngấm ngầm khi bột phát, người ta “nhắc nhở” về Mười bảy tháng hai bằng giọng điệu kích động, gây hấn và thậm chí có tờ báo mỗi năm còn “sản xuất” một kịch bản chiến tranh, lúc ở trên bộ, lúc ở trên biển. Ngay cả mối quan hệ một thời “môi hở răng lạnh” (chữ của phía Trung Quốc) với nước láng giềng Việt Nam cũng bị các luận điệu ấy kích bác một cách diễu cợt, ác ý…

May thay, những điều đó, dù có thể được “bật đèn xanh” lúc này hay lúc khác, cũng không phải là đại diện của dư luận và lương tri ở Trung Quốc.

Một nhà ngoại giao kể rằng ông ở Bắc Kinh thời kỳ Mười bảy tháng hai. Có lần đi sửa kính, người thợ già khi biết ông là người Việt Nam liền bảo: “Tôi không hiểu những gì đang xảy ra ở biên giới, nhưng đem con em Trung Quốc đi đánh Việt Nam là không thể được…”, rồi dứt khoát không lấy tiền công. Còn câu chuyện dưới đây được kể từ Quý Châu, một tỉnh vùng cao của Trung Quốc. Một đoàn khảo sát thủy điện đến đấy, ghé vào quán ăn hẻo lánh. Khi biết trong đoàn có một số người Việt Nam, chủ quán liền bốc điện thoại gọi đi đâu đó. Rồi giải thích: Ở vùng này hầu như không thấy người Việt, ông Trưởng thôn của chúng tôi luôn ước ao được có dịp gặp họ. Trưởng thôn đến ngay tắp lự (dù ông đi lại không dễ dàng), trong quân phục Giải phóng quân chỉ có chiếc mũ với quân hiệu là mới (chắc lâu không có dịp đặt lên đầu), tay trái chống nạng, tay phải cầm một chai rượu, hỏi: “Xin lỗi, ở đây có ai từng là quân nhân không?” Bạn tôi, người kể lại câu chuyện này đứng lên. Anh chưa kịp cất lời thì Trưởng thôn đã lập tức quăng nạng qua một bên, dằn chai rượu lên bàn, hai chân – một giả, một thật – dập mạnh vào nhau, tay phải hắt một đường thẳng lên vành mũ: “Tôi đã từng tham gia chiến tranh “phản kích tự vệ”, xin nhận ở đây lời xin lỗi của chúng tôi”. Ông kể mình mất một chân vì vấp phải mìn, và thôn nhỏ này cũng có tới sáu, bảy quân nhân tử trận trong cuộc “phản kích tự vệ” ấy. Ở Quảng Tây, chúng tôi có một nhóm bạn là những chiến sĩ công binh từng sang giúp Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Từ lần đầu tiếp xúc, họ vẫn gọi là “bạn chiến đấu”, đón tiếp chân tình. Ám chỉ đến cuộc chiến Mười bảy tháng hai, có người trong số họ bảo: “Cái gì xấu vứt ở ngoài kia, không cho ngồi vào đây”.

Bộ đội Việt Nam chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc

Những quan điểm tương tự cũng có ở các học giả, chuyên gia và ngay cả giới lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc. Một vị lãnh đạo từng đánh giá cuộc chiến tranh Mười bảy tháng hai là một sai lầm. Một vị gần đây còn nhìn nhận “công lao xây dựng quan hệ hữu nghị tốt đẹp với các nước láng giềng mấy chục năm qua của chúng ta chừng đã đổ hết xuống sông xuống biển”.

Ông Đặng Tiểu Bình, kiến trúc sư công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc, từng nói rằng Mao Trạch Đông “đúng 7, sai 3”. Đặng Tiểu Bình cũng là kiến trúc sư của Mười bảy tháng hai, không biết liệu ông đã tự hỏi có bao nhiêu phần đúng, sai trong sự nghiệp của mình?

Quy chiếu từ mục đích được tuyên bố ban đầu “Dạy cho Việt Nam một bài học”, có thể khẳng định rằng: Nhìn từ ba mươi nhăm năm sau, cuộc chiến tranh Mười bảy tháng hai thật sự là một sai lầm của những người gây ra nó. Còn cái lý do để có nó – “phản kích tự vệ” – chắc chắn là một ngụy lý. Người ta tự bào chữa rằng, phải “phản kích tự vệ” vì đã có hàng ngàn cuộc nổ súng, xâm lấn từ phía Việt Nam, điều không hề có thật. Và cũng không ai trả lời được câu hỏi mà tôi từng đặt ra: Việt Nam, một nước nhỏ, kiệt quệ sau ba mươi năm trường kỳ kháng chiến để giành được độc lập tự do liệu có còn dư sức để khiêu khích, gây chiến với một nước hùng mạnh là Trung Quốc? Hơn nữa, đấy là quốc gia đã sát cánh, có sự ủng hộ to lớn cho Việt Nam trong cả hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Nếu vin vào chuyện “vì yếu tố Campuchia” thì lịch sử đã cho thấy rõ rồi. Xong nhiệm vụ ngăn chặn nạn diệt chủng, Việt Nam giao lại quyền quản lý đất nước cho người Campuchia để bây giờ đất nước này nay cũng là “người bạn đáng tin cậy của nhân dân Trung Quốc”, như người ta hoan hỉ. Người Việt có thể không bắt bẻ những chuyện này làm gì, nhưng vấn đề đáng quan tâm hiện nay là: Người ta dường như vẫn tiếp tục một chính sách sai lầm theo kiểu Mười bảy tháng hai, bằng những đòn tâm lý, chính trị “gắp lửa bỏ tay người”, “ăn không nói có”, dựng nên những câu chuyện tưởng tượng “chống Trung Quốc” để kích động một bên, gây áp lực một bên. Và sự nhẫn nhịn liệu có thể là nguyên nhân để tha hồ “múa gậy vườn hoang”?

Chính sách gây áp lực tuyệt đối không thể giúp được gì vào việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nói chi đến việc xây dựng một quan hệ tốt đẹp như mong muốn của cả hai bên. Người Á Đông vốn chủ trương thuyết “tiểu nhân – quân tử”, chúng ta hãy là những quân tử!

Việt Nam là nước nhỏ so với láng giềng, nhưng chúng ta người lớn. Biết tôn trọng, biết nhún nhường vì đại cục không đồng nghĩa với việc để người nghĩ mình ươn sợ. Có câu: “Đành để người ghét, chớ để người khinh”. Huống hồ chúng ta chính nghĩa, chúng ta có ngàn năm lịch sử sau lưng và trăm triệu Lạc Hồng trước mặt chứ, đồng bào.

Tiến sĩ Vũ Cao Phan (Cố vấn Viện Chính trị và Quan hệ Quốc tế, Đại học Bình Dương. Nguyên cán bộ giảng dạy Học viện Quân sự Cấp cao (Học viện Quốc phòng), Bộ Quốc phòng.)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@truongsahoangsa.info
Xem thêm: